scvietnam.com.vn
VN|EN
DI TRÚ - TƯ VẤN - TỐ TỤNG

Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player

GOOGLE MAP

Lượt truy cập

Hôm nay : 4-7-2020

Tin Tức

Văn bản công chứng vô hiệu

VĂN BẢN CÔNG CHỨNG VÔ HIỆU VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ.

Các vụ án tranh chấp liên quan đến văn bản công chứng vô hiệu sẽ dẫn đến 1 trong các hậu quả pháp lý của việc vô hiệu là yêu cầu bồi thường thiệt hại do một trong các bên tham gia vào quá trình giao kết, chứng nhận văn bản có lỗi làm cho văn bản công chứng vô hiệu.

- Vậy, văn bản công chứng là gì?
Văn bản công chứng được quy định tại Điều 2 Luật Công chứng như sau: “Văn bản công chứng là hợp đồng, giao dịch, bản dịch đã được công chứng viên chứng nhận theo quy định của Luật này”.

- Vậy, văn bản công chứng vô hiệu khi nào?
Theo quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự ( BLDS) về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự như sau:
“ 1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.”
Theo qui định nêu trên, một văn bản công chứng được xem là vô hiệu khi văn bản đó không đáp ứng một cách đầy đủ các điều kiện được qui định tại Điều 117 BLDS.

- Vậy ai là người có quyền đề nghị Tòa án tuyên văn bản công chứng vô hiệu?
Theo Luật công chứng tại Điều 52 qui định như sau:
“Công chứng viên, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền đề nghị Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu khi có căn cứ cho rằng việc công chứng có vi phạm pháp luật.”

- Vậy khi một văn bản công chứng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu dẫn đến hậu quả pháp lý nó như thế nào?
Theo quy định tại Điều 131 BLDS:  
“1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.
2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.
3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.
4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.”
Như vậy theo quy định tại Khoản 4 Điều 131 BLDS nêu trên thì bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường;
Chiếu theo Điều 364 BLDS quy định về lỗi trong trách nhiệm dân sự cụ thể như sau:
“Lỗi trong trách nhiệm dân sự bao gồm lỗi cố ý, lỗi vô ý
Lỗi cố ý là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.
Lỗi vô ý là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.”
Theo quy định về lỗi trong trách nhiệm dân sự nêu trên, thì khi một văn bản công chứng bị tuyên vô hiệu, nếu một trong các bên có lỗi thì phải chịu trách nhiệm bồi thường cho bên bị thiệt hại. Luật Công chứng quy định các chủ thể phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại như sau:
Đối với người yêu cầu công chứng được quy định tại Điều 75: “Người yêu cầu công chứng có hành vi cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật, sử dụng giấy tờ, văn bản giả mạo, sửa chữa, tẩy xóa giấy tờ, văn bản trái pháp luật hoặc có hành vi gian dối khác khi yêu cầu công chứng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.”
Đối với tổ chức hành nghề công chứng quy định tại Điều 38: “Tổ chức hành nghề công chứng phải bồi thường thiệt hại cho người yêu cầu công chứng và cá nhân, tổ chức khác do lỗi mà công chứng viên, nhân viên hoặc người phiên dịch là cộng tác viên của tổ chức mình gây ra trong quá trình công chứng.”

Với các cơ sở pháp lý nêu trên, phần nào nhằm giúp cho một trong các bên liên quan đến văn bản công chứng được cho là vô hiệu biết được quyền của mình về việc yêu cầu Tòa án tuyên văn bản công chứng vô hiệu và đồng thời xác định được lỗi cũng như quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu có xảy ra.
 


Posted : 03-06-2020

LIÊN KẾT TRANG WEB

TÌM KIẾM

TIN TỨC